
Cửa Chương Đức Huế chính là một trong những công trình kiến trúc rất đặc trưng của Kinh thành Huế, đồng thời cũng là công trình lâu đời bậc nhất vào những năm cuối thế kỷ 18. Theo các ghi chép về triều Nguyễn, cửa này được xây dựng vào năm 1804 cách đây đã hơn 215 năm, cùng thời gian với việc xây dựng Hoàn Thành. Tuy nhiên, ở thời điểm mới xây dựng thì cửa Chương Đức Huế có kiến trúc vô cùng đơn giản, chưa có vọng lâu. Đến năm 1811, cửa Chương Đức đã được cải tạo và phát triển thêm phần vọng lâu ở phía bên trên, đồng thời từ đây trở đi cửa Chương Đức cùng với hai cửa khác là cửa Hiển Nhơn và cửa Hòa Bình đã mang kiểu thức kiến trúc đặc trưng của một tam quan dưới thời nhà Nguyễn với ba gian, mỗi gian sẽ mở một cửa, khu vực bên trên có vọng lâu được thiết kế cầu kỳ, phần mái sẽ được cắt thành nhiều tầng. Dưới thời của nhà Nguyễn, cửa Chương Đức Huế được tu bổ khá nhiều lần, tuy nhiên lần tu tạo quan trọng nhất chính là vào năm 1921 dưới thời của nhà vua Khải Định. Năm 1826 của Chương Đức lại tiếp tục được tu bổ một lần nữa và đến năm 1830, nhân việc chuẩn bị lễ Tứ tuần Đại Khánh của vua Minh Mạng thì cửa Chương Đức lại tiếp tục được cải tạo. Sau thời đại phong kiến, dưới ảnh hưởng của chiến tranh và bom đạn cửa Chương Đức Huế đã bị hư hỏng nặng nề và giữ nguyên hiện trạng cho đến năm 2003 và 2004 thì được trùng tu lại theo nguyên mẫu kiến trúc của cửa Chương Đức dưới thời vua Khải Định, từ đó giữ nguyên vẹn hình dáng cho đến tận ngày nay.
Cửa Chương Đức là một trong những cổng thành quan trọng của Hoàng thành Huế, nằm ở phía Nam của Hoàng Thành, trên trục đường dẫn vào Điện Thái Hòa. • Vị trí: Cửa này nằm trên tường thành phía Nam, giữa Cửa Ngọ Môn (trung tâm) và Cửa Hiển Nhơn (hướng Đông Nam). • Chức năng xưa: Chủ yếu dành cho các quan văn ra vào, đối xứng với Cửa Quang Đức (dành cho quan võ) ở phía Tây Nam. • Kiến trúc: • Có dạng tam quan, 3 lối đi, phần giữa lớn hơn hai bên. • Bên trên xây lầu vọng 2 tầng mái, trang trí hoa văn long – ly – quy – phượng và các mảng sành sứ màu. • Tên “Chương Đức” được viết bằng chữ Hán trên hoành phi. • Ý nghĩa tên gọi: “Chương” (彰) là tỏ rõ, sáng tỏ; “Đức” (德) là đức hạnh. “Chương Đức” nghĩa là nêu cao, làm sáng tỏ đức hạnh của triều đình.
Cửa Dương Đức không mở nên không ra được, phải quay ngược lại đi bộ tới cửa Hiền Nhơn, và đi bộ ngược lại 1 lần nữa ra bãi để xe Eo Bầu Nam Thắng.
cửa chương đức ở phía tây hoàng thành, xây năm 1804, làm theo kiểu tam quan. là cửa dành cho phái nữ hoàng thất ra vào. năm 1811, cửa xây thêm vọng lâu bên trên, được tu bổ cải tạo nhiều lần vào các năm 1921, 1926, 1930 dưới thời khải định. cửa chương đức mang kiểu thức đặc trưng của một tam quan nhà nguyễn với ba gian, mỗi gian một cửa, bên trên có vọng lâu, phần mái cắt thành nhiều tầng. cửa xây hai tầng, các trụ thân cửa chia thành nhiều ô hộc, trang trí nhiều chủ đề khác nhau. mái lợp ngói hoàng lưu ly, đầu ngói tròn nổi nhô lên trên khắc nổi chữ “thọ” trong khung tròn, đầu ngói chìm bên dưới khắc nổi đầu con dơi. với ý nghĩa “phúc thọ khang ninh”. mặt tường ngoài cửa có các hoạ tiết trang trí gắn sành sứ với nhiều hình thức, chi tiết khác nhau có mật độ khá dày, nhưng hài hoà cả về màu sắc, bố cục mang đến cho cửa vẻ đẹp tráng lệ đậm dấu ấn nét kiến trúc thời khải định.
Cổng được khảm những mảnh sứ rất nghệ thuật, buổi tối lên đèn nên đến gần cổng để ngắm, thật sự rất lung linh và giá trị nghệ thuật cực cáo