
Khu mộ Tổng Bí thư Trần Phú – Nơi yên giấc của một ý chí kiên cường Đặt chân đến khu mộ của Tổng Bí thư Trần Phú, lòng mình chợt trầm xuống, một cảm giác kính trọng và xúc động dâng lên mạnh mẽ. Không gian nơi đây tĩnh lặng, chỉ có những hàng cây rợp bóng và tiếng gió vi vu như kể lại câu chuyện về một người con kiên trung của dân tộc. Khi đứng trước phần mộ của Bác, mình không khỏi nhớ đến câu nói bất hủ: "Hãy giữ vững chí khí chiến đấu!" – lời trăn trối đầy kiên cường của một người chiến sĩ cách mạng ra đi khi còn rất trẻ. Nghĩ về cuộc đời ngắn ngủi nhưng đầy hy sinh của Bác Trần Phú, mình càng thấm thía hơn tinh thần bất khuất của thế hệ đi trước, những con người đã dành cả tuổi thanh xuân cho lý tưởng lớn lao, để đất nước có được ngày hôm nay. Xung quanh khu mộ là khung cảnh thiên nhiên bình yên, như một sự vỗ về cho giấc ngủ ngàn thu của Người. Mọi thứ ở đây đều giản dị, nhưng chính sự giản dị ấy lại làm tăng thêm sự thiêng liêng, khiến lòng mình lắng đọng. Chuyến đi này không chỉ là một lần viếng thăm, mà còn là một bài học về lịch sử, về lòng yêu nước, và về sức mạnh của ý chí con người. Khi rời đi, mình vẫn còn văng vẳng câu nói của Bác, như một lời nhắc nhở về tinh thần kiên định, về trách nhiệm của thế hệ hôm nay đối với đất nước.
Lên đây ngày 2/1/2026 mà đang sửa nền gạch
Hãy giữ vững chí khí chiến đấu.
Trần Phú sinh ngày 1 tháng 5 năm 1904 tại thành An Thổ, phủ Tuy An, tỉnh Phú Yên (nay thuộc xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên), nguyên quán của ông ở làng Đông Thái, xã An Đồng, tổng Việt Yên, huyện La Sơn, phủ Đức Thọ, tỉnh Nghệ An (nay thuộc xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh).[1] Cha Trần Phú là Trần Văn Phổ, từng đỗ Giải nguyên. Thời gian ông làm Giáo thụ Tuy An đã sinh ra Trần Phú tại đây. Mẹ ông là bà Hoàng Thị Cát, người làng Tùng Anh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Trần Phú là con thứ 7 trong gia đình. Ngày 19/4/1908, khi đang là Tri huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi), do không chịu được sự đè nén, áp bức, nhục mạ của công sứ Pháp Dodey Besra và bất lực trước tình cảnh nhân dân đói khổ, lầm than, Trần Văn Phổ đã thắt cổ tự sát tại công đường. Do nghèo khổ và buồn phiền, 2 năm sau đó, mẹ ông cũng qua đời ngày 27/11/1910. Trần Phú cùng với người em út là Trần Ngọc Danh từ Quảng Ngãi ra Quảng Trị sống với người chị gái Trần Ngọc Quang và anh trai Trần Đường, về sau được một người dì ruột là cung nương Hoàng Thị Khương mang về giao cho con trai mình là Thái Thường Tự Khanh Phạm Hoàng San và vợ là Phan Thị Yến (làm việc ở Toà Khâm sứ Huế) nuôi dưỡng, và cho ăn học tại Trường tiểu học Pháp – Việt Đông Ba rồi Trường Quốc học Huế. Tại Trường Quốc học Huế, ông được theo học cụ Võ Liêm Sơn - một nhà giáo yêu nước. Năm 1922, Trần Phú đỗ đầu kỳ thi Thành chung (học vị cao nhất theo hệ Pháp đào tạo tại Việt Nam lúc bấy giờ) lúc 18 tuổi, rồi về dạy học tại trường Tiểu học Pháp – Việt Cao Xuân Dục ở Vinh (Nghệ An).
Nơi cất giữ nhiều kỉ niệm tuổi thơ, sau bao lâu quay lại cảnh vật vẫn thật đẹp và yên tĩnh, niềm tự hào của Đức Thọ quê ta