
Ngôi miếu lớn, đầy màu sắc được xây dựng vào đầu những năm 1800 để thờ các vị vua thời trước.
Đăng nhập để viết đánh giá
Đăng nhậpThế Tổ Miếu, công trình có ý nghĩa đặc biệt, là nơi thờ các vị hoàng đế triều Nguyễn; được UNESCO ghi danh vào danh mục Di sản Văn hóá Thể giới năm 1993. Được xây dựng từ năm 1821 đến năm 1822, Thế Tổ Miếu có diện tích hơn 1.500m', là điển hình cho kiến trúc cung điện triều Nguyễn theo kiểu thức "trùng thiềm, điệp ốc". Chính doanh (9 gian) và tiền doanh (11 gian) liên kết với nhau bằng trần thừa lưu (vì vỏ cua). Hệ thống liên ba trang trí các ô hộc "nhất thi, nhất hoạ" (1 bài thơ, 1 bức tranh) sơn son thếp vàng. Không gian chính của Thế Tổ Miếu là nơi thờ các hoàng đế triều Nguyễn theo quy tắc "tả chiêu, hữu mục" (Quy tắc sắp xếp vị trí án thờ theo thứ bậc) và phối thờ một số vị hoàng hậu. Trong đó, gian chính giữa thờ Hoàng đế Gia Long (Thế Tổ Cao Hoàng đế), phối thờ Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu Tống Thị Lan và Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu Trần Thị Đang. Các gian còn lại thờ các vị Hoàng đế tiếp theo: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Kiến Phúc, Khải Định. Năm 1959, Hội đồng Trị sự Nguyễn Phước tộc đưa bài vị ba vị Hoàng đế Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân vào thờ tại Thế Miếu. Hiện nay, ba vị Hoàng đế Dục Đức, Hiệp Hòa và Bảo Đại chưa được thờ tại đây.
Thế Tổ Miếu (Thế Tổ Cao Miếu) là một công trình tâm linh cực kỳ quan trọng trong Hoàng thành Huế, nằm trong khu vực Đại Nội, dùng để thờ các vị vua nhà Nguyễn, đặc biệt là vua Gia Long – Thế Tổ Cao Hoàng đế, người sáng lập triều Nguyễn. ⸻ Thông tin cơ bản về Thế Tổ Miếu: • Xây dựng: Năm 1821, dưới triều vua Minh Mạng, nhằm tôn vinh và thờ tự vua Gia Long. • Vị trí: Nằm ở phía tây nam của Đại Nội, gần khu vực Hiển Lâm Các và Cửu Đỉnh. • Kiến trúc: • Theo kiểu “Miếu thờ hoàng đế”, mô phỏng hình thức tông miếu như ở Trung Hoa. • Miếu gồm chính điện rộng lớn và nhiều ban thờ đặt bài vị của các vua Nguyễn. • Trước miếu là khoảng sân rộng và Cửu Đỉnh, mỗi đỉnh tượng trưng cho một vị vua và cho hình ảnh đất nước. ⸻ Các vua được thờ trong Thế Tổ Miếu: • Bắt đầu từ Gia Long (Thế Tổ Cao Hoàng đế) đến các vị vua kế tiếp (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức…). • Không phải tất cả vua Nguyễn đều được thờ ở đây, chỉ những vị có công lớn, được hậu thế đánh giá cao (ví dụ vua Dục Đức, Hiệp Hòa, Bảo Đại… không có bài vị trong miếu này). ⸻ 🔍 Ý nghĩa tâm linh & chính trị: • Là nơi con cháu triều Nguyễn vào cúng tế tổ tiên, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. • Cũng là biểu tượng chính thống của dòng tộc hoàng gia, gắn liền với nghi lễ quốc gia. ⸻ Thế Tổ Miếu – Cửu Đỉnh: Ngay phía trước Thế Tổ Miếu là Cửu Đỉnh, một công trình nổi tiếng.
kể từ hnay kh còn được vô trong nửa, vì khá nhiều ngừoi bất lịch sự và bất kín với bề trên, khá buồn nên đành vậy để giữ nơi uy nghiêm cuối cùng của triều Nguyễn, kh phải ai cũng coa thể vô được. Mình may mắn là vị khách cuối cùng được vô để lạy mấy vị Thế Tổ Miếu là một công trình quan trọng trong Đại Nội Huế, mang ý nghĩa tâm linh và lịch sử sâu sắc. • Vị trí: Nằm ở phía Tây Nam Hoàng thành Huế, gần Cửu Đỉnh và Hiển Lâm Các. • Xây dựng: Được vua Minh Mạng cho dựng vào năm 1821 để thờ các vị vua triều Nguyễn, bắt đầu từ vua Gia Long (Thế Tổ Cao Hoàng Đế) – vị vua sáng lập triều đại. • Kiến trúc: Thế Tổ Miếu có kết cấu kiểu truyền thống với mái ngói hoàng lưu ly, nền cao, tường gạch bao quanh. Bên trong có nhiều án thờ, mỗi án đặt bài vị của một vị hoàng đế. Không gian miếu vừa uy nghiêm, vừa linh thiêng. • Ý nghĩa: Đây là nơi các vua kế vị và hoàng tộc đến dâng hương, làm lễ tưởng niệm tổ tiên. Thế Tổ Miếu không chỉ thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn” mà còn là nơi kết nối tâm linh giữa các đời vua Nguyễn.
Thế Tổ Miếu (thường được gọi tắt là Thế Miếu) được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 2 (1821) theo kiến trúc “trùng thiềm điệp ốc”, tiền doanh 11 gian, hai chái; chính doanh chín gian, hai chái kép. Trong miếu thiết án thờ các vua nhà Nguyễn. Mỗi vị vua được thờ ở mỗi gian. Về kết cấu thiết trí án thờ trong Thế Tổ Miếu tuân theo mô thức chung về cách thiết trí án thờ vua chúa dưới triều Nguyễn. Ngoài cùng là một án thờ dùng làm nơi thờ vọng và thiết trí tam bảo, thường được chạm lộng tứ linh, mây, lá cúc, sơn son thếp vàng. Giữa là kỷ thờ và sập thờ để bát nhang, chân đèn và các đồ tự khí hoặc các cổ vật từng gắn bó với các vị đế hậu lúc sinh thời. Trong cùng là khám thờ. Đây là những tác phẩm nghệ thuật thực sự với lối chạm trổ cực kỳ tinh xảo và nghệ thuật trang trí sơn son thếp vàng truyền thống. Bên trong khám đặt bài vị của vua và hoàng hậu. Bài vị của nhà vua luôn ở phía tả, bài vị của hoàng hậu ở về phía hữu theo nguyên tắc tả nam hữu nữ. Nếu vua lập hai hoàng hậu (như vua Minh Mạng và vua Đồng Khánh) thì bài vị của vua đặt ở chính giữa khám. Bên trái là của hoàng hậu thứ nhất, bên phải là của hoàng hậu thứ hai. Trong nội thất Thế Tổ Miếu trước đây thiết bảy án thờ bảy vị vua nhà Nguyễn
năm 1804, vua gia long cho xây miếu hoàng khảo thờ cha là nguyễn phúc luân. năm 1821 vua minh mạng cho dời miếu về phía sau, dành khu đất xây thế tổ miếu thờ vua gia long và hoàng hậu, nhưng về sau trở thành nơi thờ tất cả các vị vua của triều nguyễn. thế tổ miếu nằm trong khuôn viên rộng trên 2ha, là công trình kiến trúc gỗ theo lối “trùng thiềm điệp ốc” đặt trên nền cao gần 1m. bình diện mặt nền hình chữ nhật rộng 1500m2. nhà chính 9 gian 2 chái kép, nhà trước 11 gian 2 chái đơn, nối liền nhau bằng vì vỏ cua được chạm trổ tinh tế. phần mái lợp ngói ống lưu li vàng (nay thay ngói âm dương) đỉnh nóc gắn liền thái cực bằng pháp lam rực rỡ. bên trong thế tổ miếu, án thờ vua gia long và hai hoàng hậu đặt ở gian giữa. theo gia pháp họ nguyễn, các vua bị coi là “xuất đế”, “phế đế” đều không được thờ trong tòa miếu này, nên trước năm 1958, chỉ có 7 án thờ các vị vua sau: gia long, minh mạng, thiệu trị, tự đức, kiến phúc, khải định và đồng Khánh. tháng 10 năm 1958, án thờ ba vị vua yêu nước vốn bị liệt vào hàng xuất đế là hàm nghi, thành thái và duy tân được rước vào thờ ở thế tổ miếu.